LTS: Cùng với ngành Thủy sản cả nước, ngành Thủy sản Cà Mau đã tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trên 20 năm bằng những sản phẩm của mình và được thế giới công nhận. Nhưng bước vào "sân chơi mới" Việt Nam gia nhập WTO, ngành thủy sản Cà Mau đón nhận xem như đổi mới cách tiếp cận thị trường, chuyển từ thị trường thụ động sang tiếp thị chủ động và đa dạng thị trường. Và đã có sự chuẩn bị nhất định nhằm tận dụng được cơ hội, vượt qua thách thức, xem đây là một tất yếu khách quan, là cơ hội lớn để phát triển nhanh, mạnh, bền vững. Để rõ hơn về cơ hội, thách thức của ngành thủy sản Cà Mau ra sao khi Việt Nam gia nhập WTO, Báo ảnh Đất Mũi có cuộc trao đổi với ông Phạm Văn Đức Giám đốc Sở Thủy sản Cà Mau.

Ông Phạm Văn Đức – Giám đốc Sở Thủy sản tỉnh Cà Mau
PV: Thời cơ, thách thức đối với ngành thủy sản Cà Mau sau khi Việt Nam gia nhập WTO ?
- Ông Phạm Văn Đức: Ngành thủy sản Cà Mau có tính chất đặc thù so với các ngành kinh tế khác. Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, thực sự là luồng sinh khí mới cho ngành thủy sản Việt Nam nói chung, cho Cà Mau nói riêng. Sản phẩm thủy sản chủ yếu để chế biến - xuất khẩu, nên trong những năm qua ngành đã tuân thủ các quy định nghiêm ngặt về an toàn vệ sinh thực phẩm từ vùng nuôi đến chế biến, được các thị trường khó tính như EU, Mỹ, Nhật… công nhận. Sản phẩm thủy sản cà Mau đã xuất khẩu sang 40 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Nay, việc gia nhập WTO sẽ tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế đất nước, trong đó các cơ hội để ngành thủy sản Cà Mau phát triển như : mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tiếp thu kinh nghiệm quản lý và công nghệ tiên tiến, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, tạo môi trường rộng hơn cho các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản và có cơ sở giải quyết các tranh chấp về thương mại và mở rộng hợp tác với các tổ chức quốc tế… Hiện nay, ngành thủy sản Cà Mau đang ra sức khắc phục khó khăn, thách thức nhất định như : các doanh nghiệp còn thiếu hiểu biết về luật quốc tế, quản lý an toàn vệ sinh trong khu vực sản xuất, nguyên liệu và bảo quản sau thu hoạch; quản lý doanh nghiệp, quản lý cộng đồng; kỹ năng phát triển thị trường thiếu tầm nhìn dài hạn; việc chưa đăng ký thương hiệu cho sản phẩm thủy sản Cà Mau khi tham gia cạnh tranh trên thương trường quốc tế sẽ gây bất lợi khi có tranh chấp; trình độ tay nghề của công nhân chế biến trong tỉnh còn thấp dẫn đến chi phí cao làm giảm sức cạnh tranh.

Công nghệ chế biến của Cà Mau đủ sức để cạnh tranh với những sản phẩm giá trị gia tăng trên toàn thế giới. Ảnh : Tấn Điệp
PV: Ngành thủy sản Cà Mau cần phải thực hiện những giải pháp nào để chủ động hội nhập WTO, đủ sức cạnh tranh trên thương trường quốc tế?
- Ông Phạm Văn Đức: Khi gia nhập WTO, xét trên bình diện cả nền kinh tế thì ngành thủy sản có cơ hội nhiều hơn thách thức, được nhiều hơn là mất. Nhưng xét ở góc độ từng ngành, từng doanh nghiệp thì được mất sẽ khác nhau. Cơ hội cho ngành, doanh nghiệp này nhưng có thể là thách thức cho ngành, doanh nghiệp kia. Trên phương diện đó, ngành thủy sản Cà Mau cùng các doanh nghiệp cùng ngồi lại bàn bạc và đề ra các giải pháp sau:
1. Nâng cao sự hiểu biết về pháp luật quốc tế, quy định của WTO, các cam kết song phương để thực hiện.
2. Phòng ngừa và nâng cao khả năng xử lý các tranh chấp quốc tế theo đúng tinh thần chỉ đạo Chỉ thị 20 của Thủ tướng Chính phủ.
3. Doanh nghiệp sẽ giữ vai trò chủ công, từng doanh nghiệp phải tự xác định cơ hội - thách thức, được - mất của doanh nghiệp mình là gì, từ đó xây dựng cho mình kế hoạch hoạt động trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, nhằm tận dụng cơ hội, vượt qua thử thách, biến thách thức thành lợi thế, biến khó khăn thành thuận lợi, đối phó hữu hiệu hơn với các ràng buộc bất lợi từ WTO.
4. Nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm thủy sản của ta trên các thị trường, kể cả thị trường trong nước bằng sự liên kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp với nhau với phương châm "lớn về số lượng, tốt về chất lượng, đẹp về mẫu mã, đa dạng về chủng loại, giá cả hợp lý…". Và tùy điều kiện của từng doanh nghiệp, diễn biến của từng thị trường mà có sự điều chỉnh thị phần hợp lý, tránh tập trung quá lớn vào một, hai thị trường như hiện nay.
5. Kiểm soát chặt chẽ để nâng cao chất lượng sản phẩm và đảm bảo tuyệt đối ANVSTP thủy sản từ khâu giống, thức ăn, thuốc trị bệnh, thu hoạch, bảo quản, vận chuyển, chế biến, lưu kho đến xuất khẩu. Xem đây là khâu quyết định để hội nhập thành công.
6. Nâng cao tính cộng đồng trong doanh nghiệp thông qua các hội nghề nghiệp, các nhà nhập khẩu nhằm liên kết, phối hợp tạo nên sức mạnh tổng thể để có đủ thực lực giải quyết có hiệu quả các vấn đề phát sinh, các tranh chấp (nếu có). Mà từng doanh nghiệp riêng lẻ không thể làm được, tránh để xảy ra khiếu kiện.
7. Về lâu về dài phải tổ chức lại sản xuất nguyên liệu hàng hóa theo hướng tập trung, kiểm soát được chất lượng, bảo vệ môi trường…từng bước khắc phục tình trạng sản xuất nhỏ lẻ. Hình thành lực lượng sản xuất nguyên liệu lớn, hiện đại với nhiều hình thức thích hợp như : liện kết những người sản xuất nguyên liệu với nhau, liên kết giữa người sản xuất nguyên liệu với các doanh nghiêp chế biến…
PV : Năng lực hiện nay của ngành công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu của Cà Mau ra sao?
- Ông Phạm Văn Đức: Công nghiệp chế biến thủy sản Cà Mau trong những năm qua tăng về số lượng, công suất, trình độ công nghệ và đặc biệt là chuyển đổi thành công từ sản xuất hàng sơ chế giá trị thấp sang sản xuất hàng giá trị gia tăng có giá trị cao. Toàn bộ cơ sở chế biến được đầu tư nâng cấp, mở rộng, đầu tư chiều sâu, nhiều cơ sở chế biến mới ra đời với thiết bị công nghệ hiện đại. Tổng cơ sở chế biến hiện có 26 cơ sở, trong đó có 23 cơ sở chế biến thủy sản đông lạnh và 4 cơ sở chế biến bột cá, với tổng công suất hiện có 133.000 tấn (trong đó công suất chế biến hàng xuất khẩu 113.700 tấn). Các doanh nghiệp chế biến thủy sản trong tỉnh đã áp dụng nhiều chương trình quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế. Hiện Cà Mau có 6 cơ sở chế biến thủy sản được cấp chứng chỉ ISO 9001-2000, 19 cơ sở được cấp code EU, hầu hết các ơ sở đều được Bộ Thủy sản công nhân đạt chuẩn ATVSTP và đều được quản lý chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn HACCP. Có thể đánh giá trình độ các cơ sở chế biến thủy sản xuất khẩu trong tỉnh là ngang tầm với các nước trong khu vực và theo kịp với trình độ công nghệ thế giới. Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là tôm, nhưng trong cơ cấu sản phẩm tôm cũng ngày một đa dạng, phong phú, nhiều mặt hàng mới từ tôm đã xuất hiện, đáp ứng yêu cầu tiêu dùng ở các thị trường khác nhau.
HỒNG ĐIỆP (Thực hiện)














